Chuyển đến nội dung chính

NGƯỠNG MỘ ĐHY GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ




Đọc tiểu sử các Hồng Y, Giám mục của Giáo hội Công giáo Việt Nam, tôi rất ngưỡng mộ các Hồng Y, Giám mục ở miền Bắc trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ loạn lạc, chiến tranh liên miên (1946-1975), đặc biệt nhất là Đức Hồng Y Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê. Thời kì ở miền Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 khi cuộc chiến với thực dân Pháp kết thúc, Việt Minh nắm chính quyền ở miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra. Cuộc chiến với Pháp do người Pháp gây ra Việt Minh nhất định sẽ thắng, nhưng người Công giáo sau này sẽ khổ.
Đối với đạo Công giáo, chính quyền có thái độ thù ghét và đối xử thô bạo, bao vây chèn ép việc tự do hành đạo của người Công giáo. Ở miền Bắc thời đó đã xảy ra những sự việc gây xáo trộn và đau thương là cuộc cải cách ruộng đất những năm 1954-1956 và cuộc di cư với khoảng 2 triệu người miền Bắc vào Nam năm 1954.
Trong thời kì này, người lãnh vai trò Đại diện Tông Tòa Giáo phận Hà Nội là Giám mục Giuse Trịnh Như Khuê. Phải nói rằng thời kì Ngài làm Tổng Giám mục trưởng giáo tỉnh Hà Nội là thời kì lịch sử có nhiều thăng trầm, biến động đối với đất nước Việt Nam cũng như đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam như Ngài đã nhận định khi nhận vai trò làm Giám mục Địa phận Hà Nội là: “thời thế đang hiểm nguy và đen tối là một trách nhiệm nặng nề, khắp nơi điêu tàn về cả tinh thần và vật chất, nhất là về tinh thần”. Nói về tương lai, Ngài đánh giá đó là “những ngày bấp bênh và đầy tính đe dọa, không tươi sáng, nhiều dấu hiệu báo trước viễn cảnh u ám đáng lo ngại”.
Biết trước được thời kỳ này sẽ khó khăn như thế, Đức Giám Mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê đã can đảm quyết ở lại miền Bắc để thực hiện sứ vụ Chúa giao phó, Ngài đã luôn đứng vững để dẫn dắt Giáo hội miền Bắc vượt qua nhiều những sóng gió, thử thách phong ba bão táp để giữ gìn Giáo Hội Chúa băng qua những ngày tối tăm. Dù trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc, Ngài vẫn luôn có những việc làm bác ái thiết thực, Ngài cố gắng làm sao để chăm lo, giữ gìn cho đời sống đức tin của giáo dân và xây dựng cộng đoàn trong thời kỳ này; như mở cơ sở để đào tạo linh mục, lập ra những tổ chức, ủy ban để giúp đỡ, tiếp tế cho giáo dân trong thời khó khăn của chiến tranh, tổ chức in sách kinh bổn để dạy giáo lý, kinh nguyện cho các em thiếu nhi và thiếu niên, cho lụa, cho gạo những ai đói rách bần cùng, tổ chức hòa giải và tha thứ cho những người đã đấu tố nhau trong thời cải cách ruộng đất để qua đó họ trả lại tài sản mà mình đã lấy của người khác,… và nhiều những việc làm bác ái khác trong thời kì khó khăn này.
Về mặt ngoại giao, với chính quyền vốn là Nhà nước theo hệ tư tưởng chủ nghĩa cộng sản và do một đảng vô sản lãnh đạo nên họ tuyên bố mình vô thần, chống lại niềm tin siêu nhiên của tôn giáo mà họ cho là hoang đường, vớ vẩn. Chính quyền thời đó luôn muốn kiểm soát Giáo hội Công giáo, kìm hãm và sâu xa là tiến tới việc xóa bỏ tôn giáo (nhất là đối với Công giáo) với hệ tư tưởng chủ đạo là chủ nghĩa Mác Lenin về tôn giáo và sự thù hận tôn giáo vốn có từ trước. Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê đã có những sự đối ngoại đối với chính quyền vừa khôn ngoan và kiên quyết với niềm tin tôn giáo để giữ gìn Giáo hội là thuộc chi thể của Chúa Ki-tô, không bị lệ thuộc vào một tổ chức trần thế nào, thể hiện sự kiên định trong niềm tin vào Thiên Chúa, giúp cho Hội Thánh vẫn đứng vững. Qua đó Ngài vẫn cho thấy và khẳng định mình là một Giám mục Công giáo có lập trường, trung thành với lý tưởng theo Chúa của mình và luôn mạnh mẽ, đứng vững trong niềm tin, trong sự tín thác vào Chúa và Đức Mẹ Maria khi Ngài phó dâng Địa phận Hà Nội cho Đức Mẹ.
Nhờ ơn Chúa đã ban, Ngài vẫn luôn vững chức mà coi sóc đoàn chiên khi đã dẫn dắt và gìn giữ Giáo hội Chúa với một niềm tin sắt son để vượt qua thời kỳ gian khó. Ngài băng qua những sự chống đối, những sự vu khống, cáo buộc của những thế lực bên ngoài và thậm chí cả những “đứa con trong nhà” đã đi ngược với Giáo huấn và bất tuân phục các bậc bề trên huấn quyền, chạy theo “những học thuyết”, “những chủ trương” xa lạ bên ngoài. Ngài chỉ cốt sao cho bảo vệ được sự tông truyền của Giáo hội, những lúc như thế Ngài vẫn thể hiện sự cứng rắn của một vị mục tử và là trụ cột tinh thần vững chắc cho giáo phận Hà Nội nói riêng và toàn Giáo hội miền Bắc nói chung.
Ngài được đánh giá là con người sống rất giản dị với tinh thần khó nghèo, Ngài có lòng sùng kính đặc biệt với Đức Mẹ Maria, nên Ngài ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria, con người Ngài với vóc dáng mập mạp và tử tế nên Ngài được người ta nhìn nhận như là Giáo hoàng Gioan của Việt nam. Ngài đã nêu gương cho mọi tín hữu về sự trung thành với Chúa Ki-tô đến cùng, đúng như khẩu hiệu “Hãy Theo Thầy” của Ngài, luôn theo gương Chúa Giê-su là người mục tử nhân lành, Ngài cũng nêu gương về đời sống đạo, giữ vững Đức Tin, luôn hết mình vì đoàn chiên của Giáo hội Chúa, xem những khó khăn, gian khổ nhẹ tựa lông hồng với niềm tin, sự phó thác mọi sự cho Chúa và Đức Mẹ. Những tâm tình đó của Ngài được thể hiện rất rõ trong các bức thư chung mà Ngài gửi cho toàn thể cộng đoàn dân Chúa trong địa phận Hà Nội nói riêng cũng toàn giáo tỉnh Hà Nội nói chung.
Những hoạt động xây dựng, đóng góp cho sự phát triển của Giáo hội Công giáo Việt Nam của Ngài đã tạo nền móng và sự tiền đề cho các người kế vị Ngài sau này. Khi suy nghĩ về Ngài thì tôi nhớ đến câu lời Chúa trong thư gửi tín hữu Do Thái rằng: “Anh em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã giảng lời Chúa cho anh em. Hãy nhìn xem cuộc đời họ kết thúc thế nào mà noi theo lòng tin của họ. Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời. Đừng để cho đủ thứ học thuyết xa lạ mê hoặc anh em”. (Dt 13,7-9). Ước chi những người tín hữu hậu thế hôm nay cũng biết giữ vững Đức Tin vào Chúa Ki-tô trước những học thuyết xa lạ làm mê hoặc làm chúng ta mất đức tin, cũng noi gương các thánh mục tử về đời sống đức tin mà trung thành sống theo lời Chúa dạy. Giáo Hội lữ hành luôn trong niềm hy vọng đợi chờ ngày Chúa đến lần thứ hai, để lúc đấy khi Ngôi Hai Thiên Chúa đến lần thứ hai sẽ không tự hỏi rằng liệu thế gian có còn có niềm tin nữa không. Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê đã thực hiện sứ vụ một cách anh hùng, Ngài đã hoàn thành và thành công trong chức vụ Chúa trao và sứ vụ và Chúa trao phó cho Ngài với giáo hội Công giáo miền Bắc trong thời kỳ mà Ngài quản nhiệm.
Phần mộ của Ngài ngày nay đặt ngay dưới chân bậc tam cấp dẫn lên Cung Thánh của Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, là một viên đá lót sàn rất đơn sơ khắc hai dòng chữ “ĐỨC HỒNG Y JM TRỊNH NHƯ KHUÊ”. Đó chính là ước nguyện của Đức Hồng y. Ngài mong muốn được chôn cất tại vị trí này, để khi Giáo dân lên rước Thánh Thể, mỗi khi đặt bước chân lên phần mộ Ngài thì hãy nhớ đến và cầu nguyện cho Ngài.
Bài viết này của tác giả là một sự nhìn nhận của một người hậu thế và cũng là một tín hữu Công giáo về Ngài, nhân ngày mà Ngài được Chúa gọi về, người viết muốn được bày tỏ sự kính nhớ, sự ngưỡng mộ và yêu mến đối Ngài cũng như với những gì Ngài đã làm cho Giáo hội Công giáo trong thời kỳ lãnh đạo giáo đoàn của Ngài. Tác giả xin được dâng lời cầu nguyện cho linh hồn thầy cả Giuse Maria sớm được hưởng Tôn nhan Chúa.
Đây linh mục, những con người thánh hiến,
Suốt cuộc đời, làm chủ tế trung kiên,
Đem tình thương người mục tử nhân hiền
Dâng trọn vẹn cho đoàn chiên chẳng tiếc.
Hồng ân Chúa, những hồng ân đặc biệt,
Lãnh nhận rồi, phân phát cả cho dân,
Thắt đai lưng như đầy tớ chuyên cần
Chờ đợi chủ, tay cầm đèn sáng rực.
Không mỏi mệt nhưng kiên trì tỉnh thức,
Suốt đêm trường hay mãi tới canh khuya,
Miễn làm sao kịp khi chủ trở về
Mở ngay cửa nghênh đón Người vội vã.
Vinh tụng Chúa Cha, Vua Trời cao cả,
Cùng Chúa Con, Đấng chuộc tội cứu đời,
Và Thánh Thần, lửa yêu mến sáng soi,
Hằng hiển trị bây giờ và mãi mãi.
Ông Thầy Nhỏ
27/11/2021

Nhận xét